Giai đoạn mậu dịch Nanban (P2)

Dĩ nhiên trong thực tế mọi chuyện ko dễ dàng đến vậy, công nghệ này chưa xuất hiện ở Nhật Bản nên ko ai có đủ trình độ để chế tạo thành công ngay được nòng súng.

Dĩ nhiên trong thực tế mọi chuyện ko dễ dàng đến vậy, công nghệ này chưa xuất hiện ở Nhật Bản nên ko ai có đủ trình độ để chế tạo thành công ngay được nòng súng. Súng cũng là thứ phức tạp và đắt đỏ (gần như phải mất công lao động của 1 người trong 1 tháng mới cho ra lò 1 khẩu sẵn sàng sử dụng), nhiều nguyên liệu phải nhập bên ngoài vào như thuốc súng. Vấn đề được giải quyết 1 phần khi 2 người Bồ Đào Nha sửa xong tàu và quay lại 1 năm sau cùng 1 thợ rèn súng người Bồ, chỉ sau 10 năm, đã có 300.000 khẩu súng xuất xưởng ở Nhật Bản. Người Nhật tỏ ra đặc biệt tích cực trong việc tiếp nhận súng, bởi chúng du nhập vào Nhật giữa thời Chiến Quốc loạn lạc.

Lợi ích là thế nhưng trong thời gian đầu, súng ko được nhiều lãnh chúa quan tâm. Lý do là bởi nó chưa thể hiện ưu thế gì quá vượt trội so với các vũ khí khác, nếu ko muốn nói là còn yếu hơn khi đứng 1 mình. Vào thế kỷ 16, súng hãy còn sơ khai và cồng kềnh. Ước tính, thời gian để một xạ thủ bắn, nạp rồi chuẩn bị cho lượt bắn tiếp theo thì một cung thủ có thể bắn 15 phát. Tầm sát thương hiệu quả cũng kém cung nỏ, chỉ từ 80-100m. Ko chỉ vậy, súng Tanegashima còn rất kỵ nước và trong điều kiện mưa ẩm thì coi như vô hiệu. Tuy nhiên, sự vượt trội của súng lại nằm ở chỗ tạo ra những vết thương rất nặng và dễ sử dụng, chỉ trong thời gian ngắn 1 nông dân bình thường có thể thuần thục cách dùng súng, khiến nó được trang bị hàng loạt cho lính nông dân hay Samurai cấp thấp mà chẳng cần đào tạo lâu dài.

Trong thời gian sau, những đội quân bắn cung truyền thống nhanh chóng bị áp đảo bởi những kẻ vừa cầm súng ít ngày. Năm 1549, Oda Nobunaga cho xuất xưởng 500 khẩu súng, vào thời điểm việc ứng dụng súng rộng rãi còn bị các Daimyo nghi ngờ. Người Nhật vô cùng tích cực trong việc nghiên cứu các kỹ thuật nâng cao hiệu quả của súng. Để khắc phục điểm yếu tốc độ, họ tiến hành bắn theo lượt, nhiều hàng luân phiên trong khi hàng khác nạp đạn, tạo ra những loạt mưa đạn liên tục vào đối thủ. Về nhược điểm uy lực thì họ phát triển những khẩu có cỡ nòng lớn hơn tăng sức sát thương.

Điểm yếu thuốc súng cũng được khắc phục khi có thêm 1 hộp bảo vệ bằng sơn mài ngăn nước thấm vào, ngoài ra 1 thước ngắm cũng được phát triển để tăng độ chính xác. 1 cải tiến nữa là hayago - 1 hộp bằng tre được dùng để tạo điều kiện nạp đạn nhanh hơn. Vào năm 1567, Takeda Shingen nói rằng:”Sau này súng sẽ là vũ khí quan trọng nhất, nên hãy bỏ bớt giáo đi và đầu tư thêm súng cho quân đội”! Rồi cũng chỉ 8 năm sau, đội kỵ binh và Samurai trứ danh nhà Takeda bị 3000 xạ thủ dưới trướng Oda Nobunaga bắn tan tác trong trận Nagashino. Ước tính, lượng súng xuất xưởng của Nhật trong giai đoạn này nhiều hơn bất cứ nước châu Âu nào, dĩ nhiên chưa bàn về uy lực (series này chủ yếu nói về hải thương, nên ko đi sâu vào diễn biến chiến trường Đông Á).

Phía ngoài biển khơi, 1 đổi thay khác cũng diễn ra đồ sộ ko kém đổi thay về chiến tranh - đổi thay về thương mại. Điều này được thúc đẩy bởi những kẻ lạ mặt đang lảng vảng khắp vùng biển Trung Hoa - người Bồ Đào Nha. Sự xuất hiện của những con tàu phương tây như làn gió mới khai mở nhiều tiềm năng còn bị chôn giấu của thương mại Á Đông, và trên thực tế, ở thời điểm này có lẽ nước đồng chí hướng nhất với Nhật Bản lại là Bồ Đào Nha. Người Bồ đã đến bờ biển TQ từ năm 1513, song mọi nỗ lực của họ nhằm đạt được thương mại chính thức với Trung Hoa đều bất thành. Sự hiện diện của người Bồ ở Quảng Đông cũng như khả năng làm nước triều cống trong trật tự Trung Hoa đã bị mất sau trận Tunmen 1521 và trận Xicaowan 1522, gần như cùng lúc với vụ việc ở Ninh Ba khiến TQ đóng cảng với Nhật.

Bị loại khỏi thị trường TQ, Nhật và Bồ Đào Nha đều tiến hành buôn lậu để tiếp cận hàng hóa Trung Hoa, đây là tác nhân chính khiến nạn Nụy Khấu bùng lên dữ dội (đã có những vụ tấn công của Nụy Khấu giai đoạn này đủ lớn để được coi là “cuộc xâm lược nhỏ”). Vào thời Trung đại, Nhật Bản thường hiện lên trong suy nghĩ của người châu Âu như 1 đất nước giàu có dồi dào kim loại quý với những lâu đài mạ vàng - theo lời kể của Marco Polo. Điều này thoạt nghe có vẻ vô lý nhưng cũng đúng 1 phần: Quả thật nước Nhật có sự phong phú tương đối của trữ lượng quặng bề mặt đặc trưng của 1 quốc gia nhiều núi lửa, đã được khai thác với quy mô khá lớn kể cả trước kỷ nguyên công nghiệp với trang thiết bị tốt hơn.

Buôn động vật.

Nhật là nước xuất khẩu đồng, bạc và sắt hàng đầu thế giới thời điểm này. Mỏ bạc Iwami Ginzan phát hiện năm 1526 đã đạt sản lượng cao nhất vào đầu những năm 1600 với 38 tấn mỗi năm, xuất khẩu 130-160 tấn bạc trong giai đoạn 1615-1625, chỉ kém núi bạc vô tận của Tây Ban Nha ở Nam Mỹ. Vào thời đỉnh cao, 1/3 lượng bạc trên thế giới đến từ Nhật. Việc dồi dào các quặng kim loại quan trọng đã giúp đẩy nhanh ngành sản xuất súng của Nhật Bản. Thương nhân luôn nhanh nhạy nhất với sự thay đổi, người Nhật lập tức tuồn bạc sang Trung Hoa để mua hàng TQ vốn khan hiếm ở Nhật, nhiều quan địa phương biết nhưng chỉ làm ngơ để đổi lấy bạc là thứ đang thiếu hụt với nhà Minh, và Bồ Đào Nha nhanh chân nhảy vào chỗ trống.

Năm 1554, thuyền trưởng Leonel de Sousa đàm phán thành công về việc hợp pháp hóa thương mại Bồ Đào Nha ở TQ bằng cách đóng thuế, dẫn đến việc Macau ra đời năm 1557. Tình trạng nội chiến ở Nhật cũng có lợi cho người Bồ, vì mỗi lãnh chúa đều tìm cách thu hút thương mại đến lãnh thổ của mình bằng cách đưa ra các ưu đãi tốt hơn, và người Bồ sẵn sàng buôn bán với bất cứ ai trả giá cao nhất. Năm 1571, làng chài Nagasaki được cấp làm cảng giao dịch của Bồ Đào Nha, nhanh chóng phát triển từ 1 làng vô danh thành 1 cộng đồng thương nghiệp thịnh vượng. Theo thời gian, thành phố được trang hoàng với 1 trường dạy mỹ thuật châu Âu, 1 bệnh viện, 1 tổ chức từ thiện, 1 trường cao đẳng Dòng tên... tính “quốc tế” của Nagasaki suốt 300 năm sau đó đã tác động ko nhỏ tới Nhật Bản.

Loại tàu phổ biến nhất trong thương mại Nanban là carrack, đã được thay đổi để thuận tiện hơn cho giao dịch Á Đông. Chậm nhưng đủ lớn để mang thêm nhiều hàng hóa, trong khi vẫn giữ các tiêu chuẩn an toàn cho 1 hành trình dài và nguy hiểm. Những con tàu này ban đầu có tải trọng 400-600 tấn, về sau có thể đạt 1200-1600 tấn, với thiểu số hiếm hoi lên tới 2000 tấn. Đây là loại tàu lớn nhất vào thời điểm đó, hơn 1 tàu galleon thông thường, ngang với galleon Tây Ban Nha chạy tuyến Philippines-Mexico nhưng có chi phí rẻ và tuổi thọ dài hơn. Đa phần tàu carrack trong giao dịch Nanban được đóng trong các xưởng ở Goa, làm từ gỗ tếch Ấn Độ vốn chất lượng hơn gỗ thông châu Âu.

Chim công Ấn Độ.

Người Bồ chỉ chuyển sang dùng các loại tàu nhỏ và linh hoạt hơn khi liên tục bị Hà Lan đánh phá. Trong Mậu dịch Nanban, những con tàu của tư nhân Bồ Đào Nha thường đi cùng tàu Nhật Bản, tầm 2-3 chiếc cùng nhau. Cũng từ đây người Nhật bắt đầu gọi chung tàu phương tây là Kurofune (thuyền đen), vì những con tàu Bồ Đào Nha thời kỳ này thường sơn nhựa đen nhám chống thấm nước. Mặt hàng tiêu biểu nhất trong Mậu dịch Nanban là lụa TQ đổi lấy bạc Nhật, ước tính 1 nửa lượng bạc khai thác hằng năm của Nhật là dành cho xuất khẩu, phần lớn qua tay Bồ Đào Nha, người Bồ cũng xuất khẩu số lụa thặng dư sang châu Âu và Ấn Độ.

Nhiều hàng hóa khác cũng được giao dịch như vàng, đồ sứ Trung Hoa, sơn mài Nhật Bản, xạ hương, đại hoàng, ngựa Arab, hổ Bengal, vải và chim công Ấn Độ… trong khi các mặt hàng trên tàu châu Âu được lùng mua là thuốc lá, hạt giống cây trồng, đồ ngọt, đồ lông thú, đồng hồ cơ học, thủy tinh, rượu vang, kiếm thép cùng vũ khí như súng và pháo. Không nổi bật bằng, nhưng nô lệ cũng là 1 phần của Mậu dịch Nanban. Nhiều bại binh người Nhật bị bắt trong các trận chiến bị chính đồng hương của mình bán cho người Bồ, và nhiều Nụy Khấu gốc Hoa cũng sẵn sàng bán tù nhân của họ.

Năm 1587, Toyotomi Hideyoshi đã phải ra sắc lệnh cấm nô dịch đối với người Nhật Bản, nhưng cũng chính Hideyoshi sau đó đã bán các tù binh Triều Tiên làm nô lệ cho Bồ Đào Nha. Cũng có ghi nhận là trong thời kỳ này đã có người Nhật, Trung Hoa và cả Joseon mua nô lệ da đen. Chiều ngược lại, thiểu số người Đông Á bị bán cho Bồ Đào Nha đã lưu lạc tới tận châu Âu hay tân thế giới. Năm 1578 ở chính quốc Bồ Đào Nha xảy ra biến cố: Vua Sebastian thiệt mạng trên chiến trường Maroc khiến Bồ Đào Nha chịu khủng hoảng kế vị. Người cậu của ông là vua Tây Ban Nha Philip II ngồi vào ngai vàng Bồ Đào Nha năm 1580, 2 nước hợp thành Liên minh Iberia (được coi là bắt đầu cho sự suy yếu của người Bồ).

Dù hợp thành Liên minh với Tây Ban Nha nhưng với những người ở các xứ hải ngoại, Bồ Đào Nha vẫn là 1 nước riêng, chỉ phải chia sẻ lợi ích với Tây Ban Nha và tham chiến vì các mục tiêu của họ. Vị thế cường quốc thương nghiệp ở viễn đông của 2 nước Iberia vẫn tồn tại 1 thời gian dài nữa, nhưng ngay lúc này họ đã cảm thấy bị cạnh tranh bởi những lớp thương nhân Trung Hoa “cởi dây trói”, bởi những Châu ấn thuyền Nhật Bản ngang dọc Đông Nam Á, và bởi 1 nước châu Âu khác chen vào thế độc quyền của bán đảo Iberia - Hà Lan. Con đường dẫn vài người Anh và Hà Lan hấp hối đến Nhật trên chiếc tàu sứt mẻ là cả 1 câu chuyện dài, và chính Hà Lan sẽ xây đắp 1 cuộc cách mạng nhỏ âm ỉ trong lòng Nhật Bản.

Nguồn: Phạm Duy - Nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử

Cùng danh mục

 
Tư vấn ngay