Sơ lược về lực lượng nổi dậy Kuruc (P5)

Sau khi ký xong hiệp ước Szatmar thì vào ngày 1 tháng 5 năm 1711, Sandor Karolyi đã cùng 12,000 nghĩa quân kuruc không chỉ buông vũ khí, giao chiến kỳ cho nhà Habsburg mà còn tiến hành tuyên thệ trung thành với nhà Habsburg song dù ngay cả vậy thì Francis Rakoczi Đệ Nhị vẫn không chịu thừa nhận hiệp...

Sau khi ký xong hiệp ước Szatmar thì vào ngày 1 tháng 5 năm 1711, Sandor Karolyi đã cùng 12,000 nghĩa quân kuruc không chỉ buông vũ khí, giao chiến kỳ cho nhà Habsburg mà còn tiến hành tuyên thệ trung thành với nhà Habsburg song dù ngay cả vậy thì Francis Rakoczi Đệ Nhị vẫn không chịu thừa nhận hiệp ước Szatmar lẫn tuyên thệ trung thành với nhà Habsburg ngay cả khi thông qua bản hiệp ước này thì nếu Francis Rakoczi Đệ Nhị chịu tuyên thệ trung thành với nhà Habsburg thì Francis Rakoczi Đệ Nhị không chỉ được đảm đảm bảo quyền tự do mà cả việc được tự do rời Hungary để tới sống ở Ba Lan-Litva.

Do bởi vì không chỉ nhà Habsburg là đối thủ của Francis Rakoczi Đệ Nhị mà còn vì cả việc bản hiệp ước Szatmar được Janos Palffy ký với nghĩa quân kuruc sau khi hoàng đế Joseph Đệ Nhất của nhà Habsburg đã qua đời trước đó vào ngày 17 tháng 4 năm 1711 khiến cho Francis Rakoczi Đệ Nhị càng thêm nghi ngờ về thẩm quyền đại diện của Janos Palffy. Cùng với việc Sandor Karolyi đã cùng 12,000 nghĩa quân kuruc buông bỏ vũ khí để tuyên thệ trung thành với nhà Habsburg thì cuộc chiến giành độc lập của Rakoczi a.k.a cuộc nổi dậy đại quy mô của quân kuruc tới đây cũng kết thúc để rồi sau 1 thời gian tỵ nạn ở Ba Lan – Litva thì Francis Rakoczi Đệ Nhị đã rời Ba Lan – Litva để tới Anh rồi Pháp trước khi tới sống luôn tại Đế quốc Ottoman và qua đời ở đó vào ngày 8 tháng 4 năm 1735.

Tuy cuộc khởi nghĩa của Francis Rakoczi Đệ Nhị đã kết thúc vào năm 1711 nhưng do nhiều chiến binh kuruc trong quân Francis Rakoczi Đệ Nhị đã chuyển sang đầu quân co nhà Habsburg khi cuộc khởi nghĩa kuruc bước vào giai đoạn thoái trào nên suốt nửa đầu thế kỷ 18 thì cái tên kuruc vẫn tiếp tục được dùng để gọi các khinh kỵ Hungary phục vụ trong quân đội nhà Habsburg ngay sau đó và nhất là đối với các binh sỹ khinh kỵ Hungary ở cuộc chiến Kế vị Áo diễn ra từ ngày 17 tháng 12 năm 1740 cho tới ngày 18 tháng 10 năm 1748. Ngoài khinh kỵ Hungary thì cái tên kuruc trong kho tàng văn học Hungary cũng được dùng để gọi người Phổ nhằm để nhấn mạnh sự đối lập của họ với lính tóc dài labanc nhà Habsburg.

Francis Rakoczi Đệ Nhị.

Để rồi tới cuối thế kỷ 18 thì cái tên kuruc dần hết được sử dụng phổ biến khi nó chỉ còn được dùng theo nghĩa lịch sử khi được dùng để gọi lực lượng của Emeric Thokoly cũng như Francis Rakoczi Đệ Nhị vốn từng 1 thời đã đấu tranh vì độc lập của người Hungary. Do bởi gốc là lực lượng chống lại nhà Habsburg 1 cách tự phát nên thành phần, trang bị cũng như tổ chức của nghĩa quân kuruc nhìn chung khá là tạp nham khi nhân sự đến từ nhiều nguồn từ quý tộc tới nông dân hay thậm chí là cả thổ phỉ với lính đánh thuê cũng góp mặt trong quân kuruc với trang bị của lực lượng nghĩa quân kuruc đầu tiên vào năm 1672 là kỵ binh nhẹ với vũ khí hầu hết là súng lục, gươm nhẹ.

Cũng như là rìu của người chăn cừu fokos là loại rìu mảnh, nhẹ và dài được sử dụng không chỉ bởi dân mục đồng vùng núi Carpath mà còn cả dân mục đồng ở các nơi khác như Slovakia, Cộng hòa Séc, Ba lan, Ukraine, Rumania cùng Hungary. Dù vậy thì đó chỉ mới là thế hệ nghĩa quân kuruc đầu tiên vào năm 1672 trong khi với lực lượngcủa Francis Rakoczi Đệ Nhị sau đó thì còn phức tạp hơn khi mà vào thời điểm đầu nổi dậy thì quân dưới trướng của Francis Rakoczi Đệ Nhị vào tháng 6 năm 1703 chỉ có 200 khinh kỵ với 1 phần là đào binh từ các trung đoàn khinh kỵ của nhà Habsburg trong khi số còn lại là lính đánh thuê phi chính quy hajduk xuất thân là các nông dân tự do được thuê để đánh nhau với Thổ trước đó cũng như đồn trú các pháo đài.

Từ chỗ chỉ có 200 quân ban đầu thì Francis Rakoczi Đệ Nhị sau đó đã mở rộng quy mô lực lượng lên mức 10,000 quân song tình hình cũng chả khá khẩm bao nhiêu khi đại bộ phận lính mới gia nhập không hạng đào binh cũng là nông dân trốn khỏi lãnh chúa lẫn cả cường hào đạo tặc với phẩm chất của các chiến sỹ tân binh kuruc này bao kém khi đám quân vô kỷ luật này hay tấn công làng mạc với lâu đài nhỏ để cướp bóc. Dù vậy thì vào cuối năm 1704, Francis Rakoczi Đệ Nhị đã tiến hành tái tổ chức quân mã của mình từ chỗ là 1 đám người ô hợp nghiệp dư thành 1 đội quân chính quy gồm cả bộ binh với kỵ binh.

Không chỉ được huấn luyện mà còn được trả lương với lực lượng nòng cốt bao gồm Đội Vệ binh canh gác Cung điện, đội lính kỵ binh trang bị cacbin cùng 2 trung đoàn bộ binh hợp thành từ 2 tiểu đoàn bộ binh 500 mạng cho mỗi trung đoàn cùng lực lượng bổ sung vào sau đó gồm 1 đại đội cận vệ kapcsosok/deliasok cùng 1 trung đoàn kỵ binh ném lựu đạn khoảng 150 lính Pháp vốn sau đó được tăng viện bằng lính người Đức và Ba Lan để rồi bước sang mùa đông 1704 - 1705 thì 3 trung đoàn kỵ binh thường trực với mỗi trung đoàn gồm 10 đại đội cả thảy là 915 người gồm cả các sỹ quan đã được thành lập với nhân sự các trung đoàn đều lấy từ những người tình nguyện.

Bên cạnh các kỵ binh chính quy thì trong quân của Francis Rakoczi Đệ Nhị cũng bao gồm cả đội kỵ binh phi chính quy vốn chiếm đại bộ phận đội kỵ binh của Francis Rakoczi Đệ Nhị. Bước sang mùa đông 1705-1706 thì đã có 4 trung đoàn kỵ binh mới đã được thành lập nên , nâng tổng số trung đoàn kỵ binh trong quân Francis Rakoczi Đệ Nhị vào năm 1706 là 52 trung đoàn kỵ binh để rồi tuy co số trung đoàn kỵ binh vào năm 1707 có giảm xuống còn 44 trung đoàn để rồi vào năm 1709 thì con số trung đoàn kỵ binh kuruc trong quân Francis Rakoczi Đệ Nhị lại tăng lên mức 52 trung đoàn song dù vậy thì tỷ lệ với bộ binh cùng chủng loại lẫn trang bị kỵ binh lại không đồng đều.

Khi mà tuy tỷ lệ kỵ binh so với bộ binh kuruc trong lực lượng Francis Rakoczi Đệ Nhị chiếm tới 66% so với 33% bộ binh có trong quân tương đương tỷ lệ 57:43 song đại bộ phận quân kỵ binh lực lượng kuruc lại là khinh kỵ hussar và sau đó thì có thêm long kỵ binh nhưng lại không có trung đoàn kỵ binh nặng nào để có thể giúp nghĩa quân kuruc chống đỡ với kỵ binh nặng bên nhà Habsburg. Không dừng lại ở đó khi mà kỵ binh kuruc tuy đông nhưng chỉ có 30% tới 50% kỵ binh là được trang bị súng cacbin trong khi 10% số lượng kỵ binh thì còn chả có nổi được 1 cây thanh gươm. Ngoài kỵ binh thì trong quân Francis Rakoczi Đệ Nhị cũng sở hữu cả 1 lực lượng bộ binh đông đảo.

Dù rằng so sánh lực lượng với bộ phận kỵ binh thì không bằng với việc vào năm 1705, 1 đại đội lính súng trường Lục Xạ Thủ gồm 200 mạng đã gia nhập vào quân kuruc của Francis Rakoczi Đệ Nhị, bổ sung lực lượng cho 2 trung đoàn bộ binh mà Francis Rakoczi Đệ Nhị đã có trước đó trong đội quân chiến đấu nòng cốt của mình để rồi sau đó thì con số bộ binh trong quân của Francis Rakoczi Đệ Nhị được tăng lên khi cùng với việc 4 trung đoàn kỵ binh được thành lập vào mùa đông 1705-1706 thì có thêm 6 trung đoàn bộ binh mới được lập trong quân Francis Rakoczi Đệ Nhị dẫn đến tổng số trung đoàn bộ binh trong quân kuruc của Francis Rakoczi Đệ Nhị vào năm 1706 đã tăng lên con số 31 trung đoàn trước khi trước khi giảm xuống mức 29 trung đoàn vào năm 1707 để rồi tới năm 1709 thì con số trung đoàn bộ binh tăng lại lên mức 31 trung đoàn.

Bài viết liên quan

Cùng danh mục

 
Tư vấn ngay